Kính thưa Quý vị!
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024 do Viện Quản trị Chính sách tổ chức tại Quảng Ninh. Chương trình được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, UBND Tỉnh Quảng Ninh phối hợp lan tỏa đến cộng đồng Khoa học – Doanh nhân các Chủ trương Chính sách Quốc gia.
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân mang tính định hướng phát triển Kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực cạnh tranh và đào tạo thực tiễn cho cộng đồng Doanh nhân Việt Nam. Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân, trong chuỗi Chiến lược phát triển Việt Nam, đã tổ chức ở Bình Dương, tổ chức ở Quảng Ninh và liên kết đi các tỉnh thành khác trên cả nước.
Kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay có khoảng gần 900 nghìn doanh nghiệp hoạt động, với khoảng 7 triệu doanh nhân. Kinh tế tư nhân đang đóng góp gần 45% GDP cả nước, 1/3 thu ngân sách nhà nước, hơn 40% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho 85% số lao động cả nước; chiếm tới 35% tổng kim ngạch nhập khẩu và 25% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Chương trình liên kết mạng lưới khoa học và doanh nhân, mục tiêu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho cộng đồng chuyên gia, khoa học nghiên cứu. Sự liên kết chặt chẽ của Khoa học và Doanh nhân thúc đẩy thành lập một mạng lưới chuyên gia và doanh nhân tham gia xây dựng các chính sách lớn của Đảng và Chính phủ, với những trọng tâm như thu hút nhân tài, ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững. Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân được lan toả đến cộng đồng Khoa học và Doanh nhân, các chủ trương chính sách lớn của Kinh tế Quốc gia.
Đa dạng hóa nguồn vốn, Thu hút đầu tư, Ứng dụng chuyển đổi số, xây dựng chính sách, phát triển Kinh tế trong bối cảnh thuế suất tối thiểu toàn cầu là nội dung nóng và xuyên suốt được quan tâm. Hưởng ứng hoạt động hội nghị, Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống và Viện Quản trị Chính sách còn thiết kế các chương trình Triển lãm, Hội thảo, xúc tiến kết nối đầu tư của cộng động doanh nhân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Liên đoàn thương mại và Công nghiệp Việt Nam tiếp tục mời viết bài và tổ chức các hoạt động tiếp nối, thu hút liên kết Khoa học – Doanh nhân góp ý chính sách quan trọng của Đảng và Chính phủ.
Ban tổ chức trân trọng kính mời Quý vị Đại biểu, các chuyên gia, nhà khoa học, cơ quan báo chí tham gia, chia sẻ ý kiến và lan tỏa thông tin từ Hội nghị, liên kết tham gia mạng lưới chuyên gia Khoa học – Doanh nhân của Vòng tròn Chính sách.
Áp lực và thách thức dường như vẫn đè nặng doanh nghiệp trong thời gian tới. Hơn bao giờ hết Doanh nghiệp cần sự hỗ trợ thiết thực và hiệu quả từ cải cách của Chính phủ và sự đồng hành của chính quyền địa phương. Kinh nghiệm quốc tế cũng như trong nước cho thấy, cải cách mạnh mẽ, cải thiện môi trường kinh doanh là hỗ trợ thiết thực, hiệu quả và có giá trị nhất đối với doanh nghiệp trong thời kỳ sau khủng hoảng. Đây cũng là thời điểm để tạo đột phá về cải cách, qua đó giúp địa phương cũng như nền kinh tế phục hồi và phát triển.
THÚC ĐẨY MẠNH MẼ LIÊN KẾT KHOA HỌC VÀ DOANH NHÂN
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024 tại Quảng Ninh là hoạt động đầu tiên của cộng đồng Khoa học và Doanh nhân Việt Nam hưởng ứng, thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024 được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam; Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp lan tỏa đến cộng đồng Khoa học – Doanh nhân các Chủ trương Chính sách Quốc gia.
THÚC ĐẨY NGHIÊN CỨU PHẢN BIỆN XÃ HỘI VỀ CÁC CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CÓ TÁC ĐỘNG KINH TẾ XÃ HỘI LỚN CỦA VIỆT NAM
Liên hiệp các Hội Khoa học & Kỹ thuật luôn thúc đẩy khoa học và liên kết mạng lưới chuyên gia để thúc đẩy khuyến nghị chính sách liên quan đến những vấn đề có tác động xã hội lớn của đất nước, chủ động thực hiện các hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội trong quá trình xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các chương trình, dự án, đề án lớn về kinh tế – xã hội.
LIÊN KẾT HỆ SINH THÁI NGHIÊN CỨU TRUYỀN THÔNG VÒNG TRÒN CHÍNH SÁCH
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân được xây dựng xuyên suốt cùng các hoạt động của Chiến lược phát triển Việt Nam do Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì tại các tỉnh thành. Chương trình cập nhập những thông tin về thực trạng Việt Nam, phân tích khuyến nghị các chính sách về tất cả các lĩnh vực và các hoạt động nổi bật, xu hướng trong đó có Kinh tế tư nhân. Chương trình phối hợp với các Tỉnh thành, địa phương để liên kết Chiến lược phát triển địa phương, vùng và Quốc gia, mục tiêu xuyên suốt: Tầm nhìn Quốc gia, hành động địa phương, Xu thế toàn cầu.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam với chức năng cơ bản là Tư vấn, Phản biện và Giám định xã hội TVPB&GĐXH, LHHVN đã tập hợp các nhà khoa học từ các Viện thành viên, tổ chức KH&CN trực thuộc góp ý, tư vấn cho hàng trăm dự thảo văn bản quan trọng của Đảng, các dự án luật của Quốc hội, dự thảo nghị định của Chính phủ hoặc các dự thảo thông tư của các bộ/ngành…Những góp ý kiến nghị này luôn mang tính khoa học cao, khách quan, trung thực nên luôn được Đảng, Nhà nước ghi nhận, biểu dương những cố gắng; đánh giá cao những nỗ lực của các nhà khoa học, đội ngũ trí thức KH&CN của LHHVN và các Hội, Viện thành viên.
Tiếp nối thành công của Hội nghị Chiến lược thu hút FDI của Bình Dương bối cảnh thuế suất tối thiểu toàn cầu vào tháng 12/2023, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chỉ đạo, Viện Quản trị Chính sách trực thuộc Liên hiệp Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chủ trì thiết kế xây dựng nội dung Chuỗi sự kiện Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024. Đây là hoạt động đầu tiên của cộng đồng Khoa học và Doanh nhân Việt Nam hưởng ứng, thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 10/10/2023 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.
Chương trình mang tính định hướng phát triển Kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực và đào tạo thực tiễn cho cộng đồng Doanh nhân Việt Nam, cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn cho cộng đồng chuyên gia, khoa học nghiên cứu xây dựng chính sách. Theo báo cáo của Viện Quản trị Chính sách, Kinh tế tư nhân ở nước ta đã có bước phát triển mạnh mẽ, đến nay có khoảng gần 900 nghìn doanh nghiệp hoạt động, với khoảng 7 triệu doanh nhân. Kinh tế tư nhân đang đóng góp gần 45% GDP cả nước, một phần ba thu ngân sách nhà nước, hơn 40% vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội, tạo ra công ăn việc làm cho 85% số lao động cả nước; chiếm tới 35% tổng kim ngạch nhập khẩu và 25% tổng kim ngạch xuất khẩu. Từ ngày 1/1/2024, chính sách thuế tối thiểu toàn cầu 15% chính thức có hiệu lực. Đây là chính sách ảnh hưởng đáng kể tới quốc gia đang có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư, kinh doanh như Việt Nam.
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024 được tổ chức đúng thời điểm Doanh nghiệp cần sự hỗ trợ thiết thực và hiệu quả từ cải cách của Chính phủ và sự đồng hành của chính quyền địa phương. Kinh nghiệm quốc tế cũng như trong nước cho thấy, cải cách mạnh mẽ, cải thiện môi trường kinh doanh là hỗ trợ thiết thực, hiệu quả và có giá trị nhất đối với doanh nghiệp trong thời kỳ sau khủng hoảng. Đây cũng là thời điểm để tạo đột phá về cải cách, qua đó giúp địa phương cũng như nền kinh tế phục hồi và phát triển.
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024 tại Quảng Ninh, phát triển liên kết hợp tác 3 nhà Chính quyền – doanh nghiệp – Viện nghiên cứu, thúc đẩy cho cộng đồng doanh nghiệp tham gia vào hệ sinh thái chuyên gia – doanh nhân – truyền thông trong Chiến lược phát triển Việt Nam, cùng chia sẻ thông tin, tăng cường góp ý chính sách, đồng hành liên kết cơ sở dữ liệu để tạo môi trường thuận lợi nhất cho doanh nghiệp, nhằm tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp yên tâm phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.
Chương trình Hội nghị đưa ra bức tranh tổng quát về Kinh tế tư nhân do các đại diện của Viện Quản trị Chính sách, Ngân hàng Quân đội, các chuyên gia Kinh tế chia sẻ. Diễn đàn mở đưa ra những giải pháp nâng cao vai trò của Kinh tế tư nhân trong phát triển đất nước, thúc đẩy Doanh nhân Việt ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và tham gia đối thoại góp ý chính sách phát triển Chiến lược Kinh tế tư nhân.
Hội nghị liên kết đội ngũ Khoa học – Doanh nhân tham gia chương trình truyền hình Vòng tròn Chính sách, để các giới tăng cường hợp tác, thảo luận, góp ý những chính sách, cải cách mới. Chương trình cập nhập những thông tin về thực trạng Việt Nam, phân tích khuyến nghị các chính sách về tất cả các lĩnh vực và các hoạt động nổi bật, xu hướng. Tôi kì vọng sau Hội nghị, các bên sẽ có nhiều hoạt động phối hợp hiệu quả, liên kết VUSTA – VCCI sẽ mang lại nhiều ấn phẩm khoa học, báo cáo nghiên cứu chính sách chất lượng của cộng đồng Khoa học – Doanh nhân gửi đến Chính phủ và Quốc hội.
Trong kinh tế tư nhân doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân phát triển nhanh về số lượng và chiếm chủ yếu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Với lực lượng đông đảo, các doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng lớn về số lao động, nguồn vốn và doanh thu của cộng đồng doanh nghiệp.
“Hội nghị Chiến lược phát triển kinh tế tư nhân 2024 là một trong những hoạt động phối hợp giữa VCCI và VUSTA để thúc đẩy liên kết giữa đội ngũ trí thức với đội ngũ doanh nhân đúng như Nghị quyết 41-NQ/TW đã đề ra. Đây chính là dịp để các chuyên gia, các nhà khoa học và doanh nhân, doanh nghiệp cùng trao đổi, thảo luận về giải pháp phát triển kinh tế tư nhân
Thực tế, để hoàn thành cho các mục tiêu về kinh tế xã hội đã đề ra trong giai đoạn 2021-2025, cần nhiều hơn nữa sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, hoạt động của khu vực này còn gặp nhiều khó khăn, rào cản như chưa thật sự được bình đẳng như các khu vực kinh tế khác trong tiếp cận các nguồn lực về tài chính, đất đai, hay những bất cập, thiếu đồng bộ trong thể chế phát triển kinh tế tư nhân.
Nhờ các chủ trương, chính sách hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, khu vực kinh tế tư nhân đã ngày càng phát triển và đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam. Tính đến năm 2022, KTTN đóng góp tới 52,01% GDP; 16,94% nguồn thu NSNN; 58,18% tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội. Bên cạnh đó, KTTN còn đóng góp quan trọng trong việc tạo ra việc làm, giảm nghèo, cải thiện điều kiện sống, tăng trưởng bền vững và toàn diện ở Việt Nam. Lao động trong KTTN chiếm tới 82,07% tổng số lao động đang làm việc, cao hơn nhiều so với 10,03% của khu vực FDI và 7,89% của khu vực Nhà nước; v.v..
Trong KTTN, doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân (DNTN) phát triển nhanh về số lượng và chiếm chủ yếu trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Đến hết năm 2021, cả nước có 694.181 DNTN, chiếm tới 96,59% tổng số doanh nghiệp hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh (cao hơn nhiều so với tỷ lệ 2,15% doanh nghiệp FDI và 0,27% doanh nghiệp Nhà nước). Với lực lượng đông đảo, các DNTN chiếm tỷ trọng lớn về số lao động, nguồn vốn và doanh thu của cộng đồng DN.
Bối cảnh thế giới lại đang chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường, nhiều vấn đề phát sinh chưa có tiền lệ. Những thay đổi toàn diện về địa chính trị, kinh tế, thương mại, cạnh tranh giữa các nước lớn, hội nhập, chuỗi cung ứng,… cùng với xu thế tất yếu của kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát triển bền vững và Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nhất là chuyển đổi số đang đặt ra những thách thức mới, đòi hỏi khu vực KTTN phải không ngừng đổi mới để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức nhằm phát triển nhanh và bền vững. Trong bối cảnh đó, ngoài nỗ lực của khu vực KTTN thì việc hoàn thiện thể chế, nhất là đưa ra những chính sách và thực thi có hiệu quả chính là động lực quan trọng cho việc phát triển KTTN, góp phần quyết định vào việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Tuy nhiên, những kết quả trên mới chỉ là bước đầu và vẫn chưa tương xứng với tiềm năng phát triển và vai trò của khu vực KTTN, nhất là khi Đất nước ta cũng đang đứng trước những cơ hội, mục tiêu và khát vọng phát triển to lớn. Năm 2024 và các năm tiếp theo, các cơ quan chức năng cần tiếp tục có những giải pháp, chính sách nhằm “giữ lửa” đà cải cách môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi, an toàn, bình đẳng cho kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh đó, tiếng nói thực tiễn từ cộng đồng doanh nghiệp trong hoạch định chính sách cho sự phát triển của kinh tế tư nhân, sự phát triển của quốc gia là rất cần thiết. Phấn đấu hoàn thành mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra là đến năm 2030, trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Quảng Ninh có vị trí chiến lược về địa chính trị, địa kinh tế với những tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế so sánh cạnh tranh trong thu hút đầu tư. Trong những năm qua, nhất là trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng cao và ổn định, giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt trên 2 con số trong 9 năm liên tiếp. Kết quả thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh trong những năm qua có sự đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế tư nhân.
Thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 2024 trong bối cảnh kinh tế và thương mại toàn cầu tiếp tục phục hồi nhưng thị trường tài chính, nợ công tại nhiều quốc gia còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, thách thức; cạnh tranh chiến lược, phân tách chuỗi cung ứng, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, thiên tai, biến đổi khí hậu ngày càng khó lường… Tỉnh Quảng Ninh đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức dự báo có thể nhiều hơn, nhất là yếu tố đảm bảo mục tiêu tăng trưởng GRDP bền vững hai con số khi quy mô nền kinh tế hết năm 2023 đã ở mức cao; đồng thời vừa phải tập trung xử lý các vấn đề tồn đọng kéo dài và kịp thời ứng phó với những vấn đề cấp bách, mới phát sinh. Trong Quý 1, Quảng Ninh đã thành lập Tổ công tác đẩy nhanh tiến độ thực hiện các Chương trình, dự án trọng điểm sử dụng vốn ngân sách cấp tỉnh và giải ngân Kế hoạch đầu tư công năm 2024 tại Quyết định số 01/QĐ-UBND ngày 01/01/2024, tập trung vào 09 dự án chuyển tiếp, 05 dự án khởi công mới năm 2024 và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tập trung khắc phục kịp thời những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý, chuẩn bị đầu tư; đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công gắn với nâng cao chất lượng công trình, dự án ngay từ đầu năm. Chỉ đạo hoàn thiện các thủ tục trình HĐND tỉnh xem xét quyết định chuyển nguồn kéo dài thời gian thanh toán giải ngân vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2023 sang niên độ ngân sách năm 2024.
Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024 chọn tổ chức tại Quảng Ninh là hoạt động rất ý nghĩa và thiết thực đối với Quảng Ninh, góp phần nâng cao hình ảnh năng lực cạnh tranh của Quảng Ninh trong tổng thể chiến lược phát triển Quốc gia.
“Quảng Ninh đặt mục tiêu hướng đến năm 2030 trở thành một tỉnh tiêu biểu của cả nước về mọi mặt; tỉnh kiểu mẫu giàu đẹp, văn minh, hiện đại, nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân; cực tăng trưởng của khu vực phía Bắc. Do đó, hội nghị Chiến lược phát triển kinh tế tư nhân sẽ góp phần đẩy mạnh liên kết, hợp tác giữa doanh nhân, doanh nghiệp với các nhà khoa học, thúc đẩy tiếp cận khoa học công nghệ, tạo đột phá trong sản xuất, kinh doanh, đổi mới công nghệ, tăng năng suất lao động để doanh nghiệp phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời, tăng cường liên kết, hợp tác giữa doanh nhân, doanh nghiệp, tạo cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu..” – Ông Cao Tường Huy, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND Tỉnh Quảng Ninh.
Chuyên gia Nguyễn Thy Nga: Để phục hồi phát triển kinh tế, thì theo Bộ trưởng nguồn lực và động lực mạnh nhất là từ đâu? Và có thể thu hút như thế nào?
Bộ Trưởng Hồ Đức Phớc: Như Nghị quyết Đại hội Đảng đã đề ra, là đột phá về thể chế, đột phá về cơ sở hạ tầng, và đột phá về nguồn nhân lực. Thế thì vấn đề quyết định để thực hiện được ba đột phá này là nguồn lực, kể cả nguồn lực con người. Muốn tạo dựng lên được cách làm mới và hiệu quả, thì yếu tố con người hết sức quan trọng. Phải đồng tâm hiệp lực, phải có tầm nhìn xa, có chiến lược đúng, phải có tính quyết đoán mạnh mẽ, phải hội tụ mọi người vào mục tiêu chung và có khát vọng để phát triển, khát vọng để làm giàu, khát vọng để xây dựng đất nước, thì rõ ràng chúng ta mới tạo nên được thành tựu. Cho nên tôi nghĩ rằng chìa khóa vẫn là con người, thể chế, công nghệ. Có lẽ cả ba vấn đề này sẽ quyết định cho sự phát triển.
Chuyên gia Nguyễn Thy Nga: Vậy thì làm sao các địa phương khác có thể thu hút được những nguồn lực như Quảng Ninh đã làm?
Bộ trưởng Hồ Đức Phớc: Quảng Ninh đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp quy hoạch đi trước một bước, hạ tầng đi trước một bước, đặc biệt là hạ tầng kết nối, kết nối giữa Quảng Ninh với Hà Nội, giữa Quảng Ninh với Hải Phòng, giữa Quảng Ninh với các tỉnh thành khác, kết nối đường hàng không với các Quốc gia khác. Bài học huy động được nguồn lực, sự quyết tâm chung của hệ thống chính trị, huy động được sự nhiệt tình cũng như nguồn lực của người dân, trong đó có các vấn đề cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số… tạo ra Quảng Ninh theo một dáng dấp mới và đóng góp ngân sách cao.
Quảng Ninh có nhiều cách làm sáng tạo, đổi mới và cũng có thể nói là hình mẫu. Khi chúng ta tạo nên được các tỉnh thành giống như một khung xương, thì chúng ta tạo nên được những đột phá, tạo nên các vùng lan tỏa và tạo nên sự phát triển chung cho nền kinh tế đất nước.
Chuyên gia Nguyễn Thy Nga: Làm sao có thể nhân rộng những hình ảnh như Quảng Ninh và làm sao đưa hình ảnh của Việt Nam nhiều hơn đến với Thế giới?
Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng: Chúng tôi rất tâm đắc về những thành tựu mà Đảng Bộ chính quyền và nhân dân Quảng Ninh đã gây dựng. Theo chúng tôi, bài học mà Quảng Ninh đạt được đó là đã kế tục những thành quả lãnh đạo của các thế hệ cán bộ lãnh đạo của tỉnh qua các thời kỳ. Quảng Ninh đã đi trước đón đầu, Quảng Ninh có tầm nhìn toàn cầu và hành động địa phương, và tôi nghĩ chính cái nhìn toàn cầu và hành động của địa phương đã giúp cho Quảng Ninh định vị lại vị thế của mình. Phát hiện đâu là tiềm năng tiềm ẩn, đâu là điểm nghẽn để chúng ta hành động. Khi người ta đã thấy được cách nhìn rộng, và đặt ra ở mức độ là nhìn trong xu hướng vận động và phát triển, tầm nhìn không giới hạn chỉ 5 năm, 3 năm mà còn dài hơn thế trong chiến lược. Cho nên Quảng Ninh đã thấy được lợi thế của mình mà như người Quảng Ninh nói là “từ chân trời cửa biển”, và tôi nghĩ câu nói hình ảnh đơn giản, mộc mạc ấy đã toát lên hết được rằng Quảng Ninh đã trân quý những giá trị di tích và di sản mà thiên nhiên ban tặng, con người Quảng Ninh biết sử dụng nó một cách linh hoạt, khai thác nó chứ không làm cạn kiệt nó mà bồi đắp cho nó. Du lịch Quảng Ninh từng bước khởi sắc, đóng góp tích cực vào thành quả kinh tế chung. Chính vì vậy mà Quảng Ninh đã đạt được những lợi ích đi kèm, đi kèm với phát triển du lịch thì văn hóa du lịch cũng từng bước phát triển, các thiết kế của văn hóa Quảng Ninh được xây dựng một cách đồng bộ, họ cũng có những cách làm và tầm nhìn toàn cầu. Và tôi nghĩ là qua giai đoạn phát triển nâu, Quảng Ninh đang đi lên rất chững chạc trong phát triển xanh của một kỷ nguyên xanh.
Chuyên gia Nguyễn Thy Nga: Nhưng có một vấn đề là để lan tỏa một cách mạnh mẽ hơn nữa tinh thần của Lãnh đạo đứng đầu, các bộ ngành của khối Chính phủ đến người dân, và từ đó các địa phương cũng có thể hiểu rõ hơn các tư tưởng lớn, các thông điệp mà Chính phủ đã đưa ra. Vậy Chính phủ đã có những biện pháp gì, những cơ chế chính sách gì để thay đổi?
Phó Thủ tướng Lê Minh Khái: Gửi các Bộ ngành, địa phương:
– Tập trung triển khai thực hiện quyết liệt các nhiệm vụ trọng tâm là một trong những tiêu chí quan trọng đánh giá xếp hạng cuối năm đối với tổ chức, cá nhân, nhất là người đứng đầu.
– Triển khai kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện các nhiệm vụ; xác định thứ tự ưu tiên, phân công, phân nhiệm rõ ràng đối với cá nhân từng đồng chí lãnh đạo bộ, ngành, địa phương trong việc chỉ đạo triển khai thực hiện. Các Bộ, ngành theo nhiệm vụ được giao phải hoàn thành ngay việc ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện, bảo đảm tiến độ, chất lượng.
– Phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương trong theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, khu vực, chủ động phân tích, dự báo; kịp thời thực hiện các giải pháp phù hợp ứng phó với các vấn đề phát sinh; điều hành linh hoạt đồng bộ, phối hợp chặt chẽ các công cụ chính sách để góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.
– Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát và kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc, điểm nghẽn. Các Bộ, ngành, địa phương, đơn vị phải phấn đấu giải ngân hết 100% kế hoạch vốn được giao từ đầu năm gắn với bảo đảm chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Xử lý nghiêm, kịp thời đối với các hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu, cản trở, làm chậm tiến độ giao vốn, thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công.
– Chủ động rà soát, tháo gỡ theo thẩm quyền hoặc đề xuất cấp có thẩm quyền tháo gỡ các vướng mắc cản trở hoạt động sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh lộ trình thực hiện cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số.
Về nguồn vốn cho doanh nghiệp.
– Bên cạnh việc đảm bảo một môi trường tỷ giá và lãi suất ổn định ở vùng thấp, các cơ quan chức năng cần tiếp tục hoàn thiện khung chính sách của thị trường vốn vì doanh nghiệp chỉ có hai kênh dẫn vốn chính: vốn chủ sở hữu và công cụ vốn vay. Cần kiện toàn hành lang pháp lý với thị trường TPDN, hướng dẫn triển khai các công cụ vốn chủ khác để doanh nghiệp có nhiều không gian với nguồn vốn chủ như quyền chọn cổ tức, cổ tức không có quyền biểu quyết, hay chính sách tái đầu tư cổ tức để các doanh nghiệp có thể hài hòa lợi ích cho cổ đông và giữ lại phần vốn phục vụ mở rộng sản xuất kinh doanh.
– Xây dựng TTCK hấp dẫn để thu hút nguồn vốn ngoại bổ sung cho nguồn vốn trong nước. Muốn vậy phải nhanh chóng triển khai các biện pháp để sớm nâng hạng thị trường. Phải tăng được quy mô thị trường và để tăng quy mô thì phải tăng số lượng và chất lượng hàng hóa, và thu hút được nhiều nhà đầu tư tham gia, đặc biệt các quỹ ngoại, phải xây dựng được lòng tin với nhà đầu tư, phải củng cố kỷ cương thị trường.
– Làm thế nào để hấp dẫn những doanh nghiệp lớn làm ăn hiệu quả như THACO hay Hyundai Thành Công niêm yết trên sàn chứng khoán? Hay làm thế nào để các doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn sau niêm yết như Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tập đoàn Xăng dầu, Tập đoàn Cao su Việt Nam hay nhiều tổng công ty, doanh nghiệp khác phát huy được hiệu quả của kênh vốn chủ này là hai câu hỏi cần tư duy và hành động từ cả hai phía doanh nghiệp và Nhà nước.
Về chủ động chuyển đổi số để nâng cao năng suất, xây dựng năng lực cạnh tranh và tận dụng các cơ hội mới.
MB may mắn và có sự chuẩn bị kỹ và sớm nên công cuộc chuyển đổi số tại MB được thị trường đánh giá khá thành công, với 97% số lượng giao dịch được thực hiện qua kênh số và 3 năm liền App của chúng tôi đứng đầu thị trường về số lượng lượt tải. Với >26 triệu khách hàng đang phục vụ, MB LÀ NGÂN HÀNG CÓ SỐ LƯỢNG KHÁCH HÀNG LỚN NHẤT Việt Nam!
Chuyển đổi số không phải là công nghệ mà là chiến lược, là tư duy và cách nghĩ mới. Do đó, các tổ chức phải nâng tầm nhận thức, chứ không chỉ đơn thuần là đầu tư cho cơ sở hạ tầng CNTT. Công nghệ chỉ là công cụ giúp chúng ta tạo ra giá trị cho doanh nghiệp và tổ chức và có 5 cấu phần quan trọng cần tập trung, thay đổi nhận thức, tư duy và thiết kế lại mô hình kinh doanh bao gồm khách hàng, cạnh tranh, dữ liệu, sáng tạo và phương thức tạo ra giá trị.
Chúng ta cần suy nghĩ và thay đổi cách phục vụ, kết nối và tạo ra giá trị cho khách hàng.
Cần thay đổi tư duy và mô hình kinh doanh từ cạnh tranh bằng sản phẩm sang cạnh tranh bằng nền tảng, và cần xác định rõ đối thủ cạnh tranh của chúng ta trong môi trường hiện nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi trong ngành mà với cả các công ty đến từ ngoài ngành.
Sau con người, doanh nghiệp phải coi dữ liệu là tài sản tối quan trọng. Chúng ta cần những dữ liệu biết nói, sản xuất ra tri thức, hỗ trợ quá trình ra quyết định trong kinh doanh và nâng cao chất lượng dịch vụ cho khách hàng.
Chúng ta cần nuôi dưỡng và phát huy sự sáng tạo trong tổ chức. Thay vì cách tư duy áp đặt từ trên xuống, chúng ta nên thay bằng phương pháp tiếp cận từ dưới lên để phát huy tính sáng tạo, dám nghĩ, dám thử nghiệm cái mới của các đơn vị tuyến đầu và các đơn vị chức năng trong tổ chức.
Chúng ta cần khả năng thích ứng nhanh, thay đổi phương thức tư duy tạo ra giá trị cho khách hàng. Thay vì chờ đợi khi các thay đổi đã trở thành vấn đề sinh tử, các doanh nghiệp cần chủ động nắm lấy các cơ hội, khai thác các nguồn lực và thích ứng sớm trước khi sự thay đổi diễn ra.
Thuế suất tối thiểu toàn cầu có hiệu lực đòi hỏi Doanh nghiệp Việt đẩy mạnh quá trình phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Doanh nghiệp Việt cũng cần nhanh nhạy hơn trong các góp ý xây dựng chính sách để môi trường Kinh doanh Việt Nam có lợi cho Doanh nhân Việt. Ví dụ cụ thể về thuế TNDN của một Doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam sẽ là 10%; 7%; 5% thậm chí 0% thì thuế TNDN của một Doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang là 15-18%.
Hội nghị cũng chia sẻ kinh nghiệm xây dựng và phát triển khoa học Chính sách của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, nhân rộng mô hình hợp tác liên kết giữa Chính quyền – Viện nghiên cứu – Doanh nghiệp, tăng cường phát huy nguồn lực xã hội, tìm kiếm giải pháp, thúc đẩy nhanh chóng, kịp thời và chính xác các hoạt động chính sách vào đời sống, chủ động linh hoạt trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động.
Thực trạng về lượng tác động đến khán giả trực tiếp tại các Hội nghị Hội thảo là vô cùng ít ỏi. Chỉ được hàng trăm hay cao hơn là hàng ngàn người, không đáng bao nhiêu nếu tính trên trăm triệu người dân Việt Nam. Bài toán đặt ra là cần thay đổi hình thức tổ chức, kết cấu thành phần đa dạng và lan tỏa đa chiều hơn đối với các Chương trình chính sách.
Vòng tròn Chính sách liên kết những cá nhân, đơn vị uy tín, có năng lực hội tụ nguồn lực xã hội và nguồn lực tổ chức các hoạt động phối hợp công – tư, chủ động tham gia, hỗ trợ nguồn lực vào quá trình dự thảo chính sách, tổ chức hoạt động truyền thông chính sách.
Sản phẩm truyền thông chính sách cần phải dựa trên cơ sở dữ liệu chính sách và ứng dụng chuyển đổi số, bao trùm về xu hướng quốc tế, tầm nhìn Việt Nam và hành động địa phương, tổng hợp được hệ thống chủ trương, chiến lược, văn bản đã được ban hành liên quan đến chủ đề của chính sách. Từ đó chọn lọc được đúng nội dung cốt lõi, mục tiêu trong tâm, đúng đối tượng, đúng kênh truyền thông, đúng thời điểm.
Truyền thông chính sách phải được tổ chức liền mạch, hệ thống dữ liệu, nội dung tổng quát, chuyên sâu. Truyền thông chính sách bao trùm từ phát hiện vấn đề chính sách đến đánh giá tác động, đồng thời dự báo được các phản ứng chính sách, lấy ý kiến tạo sự đồng thuận xã hội trong suốt quá trình dự thảo và thực thi chính sách.
Huy động nguồn lực xã hội, những cá nhân tổ chức có uy tín và kinh nghiệm trong nghiên cứu và phối hợp quy trình hoạch định chính sách chủ động tham gia vào quá trình sản xuất nội dung tuyên truyền chính sách.
Khuyến khích các cá nhân, tổ chức tăng cường sử dụng kinh phí lồng ghép trong các chương trình, đề án liên quan đã được phê duyệt các nguồn hợp pháp khác liên kết thực hiện nghiên cứu, truyền thống chính sách.
Trên cơ sở chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 31/2021/QH15 của Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2021 – 2025, Viện Quản trị Chính sách, Liên hiệp các Hội Khoa học và công nghệ Việt Nam đã tiên phong nghiên cứu và công bố báo cáo độc lập “Đánh giá tác động của thuế suất tối thiểu toàn cầu trên các Quốc gia và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam”.
Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển đã nhanh nhạy phát hiện vấn đề và thúc đẩy nghiên cứu, sớm hoàn thành các giai đoạn của báo cáo nghiên cứu và báo cáo khuyến nghị về “Đánh giá tác động của thuế suất tối thiểu toàn cầu trên các quốc gia và khuyến nghị chính sách cho Việt Nam” để gửi đến Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan liên quan, chủ động tham gia xây dựng góp ý chính sách kinh tế quốc gia. Đây là vấn đề nóng cần sự vào cuộc của trí thức KHCN, và cần sự sát sao chỉ đạo của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam để liên kết thúc đẩy cộng đồng khoa học, thực hiện công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội. Với góc độ Kinh tế Quốc gia, việc Viện Quản trị Chính sách phát hiện vấn đề sớm, nghiên cứu và dự báo chính sách là vô cùng cần thiết, sẽ ngày càng thể hiên vai trò quan trọng của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, là kênh quan trọng của Đảng, Nhà nước, Quốc hội trong việc lấy ý kiến để quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, dân tộc, tác động lớn đến kinh tế – xã hội của đất nước, nghiên cứu các chủ trương chính sách quan trọng của Quốc gia.
Viện Quản trị chính sách liên kết các tỉnh thành địa phương, khuyến nghị thiết kế bản kiến trúc tổng thể về quá trình truyền thông chính sách phát triển nội luật thuế suất tối thiểu toàn cầu của Bộ Tài chính đang xây dựng, thúc đẩy nguồn lực tư nhân tham gia góp ý truyền thông chính sách, đảm bảo quyền lợi và vị thế quốc gia, hài hòa với các đối tác quốc tế, đạt được mục tiêu thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp trong nước của Chính phủ Việt Nam.
Thuế suất tối thiểu toàn cầu khi triển khai sẽ ảnh hưởng lớn, trực tiếp đến chính sách kinh tế trong đó có thuế và thu hút đầu tư của Việt Nam. Viện Quản trị Chính sách khuyến nghị Việt Nam cần tăng cường các chương trình đối thoại đơn phương và song phương, thể hiện vai trò kết nối các nước khối ASEAN tạo môi trường đầu tư, kinh doanh chung của khối để cạnh tranh với các đối thủ ngoài khối trong thu hút đầu tư nước ngoài, việc nhanh chóng liên kết nội luật thu hút đầu tư bối cảnh thuế suất tối thiểu toàn cầu tại các nước ASEAN tạo cơ hội xóa bỏ cạnh tranh riêng lẻ giữa các quốc gia thành viên, đem lại lợi ích cho cả Việt Nam và các nước khác.
Viện Quản trị Chính sách đề xuất giải pháp liên kết khoa học – doanh nhân trong Hệ sinh thái nghiên cứu và truyền thông chính sách “Chiến lược phát triển Việt Nam”, chủ động nghiên cứu và gửi báo cáo mục tiêu tăng cường ý kiến của cộng đồng vào Đề án “Nghiên cứu phản ứng chính sách ứng phó của một số quốc gia trên thế giới về thuế tối thiểu toàn cầu và bài học kinh nghiệm với Việt Nam” mà Thủ tướng Chính phủ giao Bộ Tài chính chủ trì xây dựng. Viện Quản trị chính sách đã và đang ghiên cứu phát triển đề án “Chiến lược thu hút FDI của Việt Nam bối cảnh Thuế suất tối thiểu toàn cầu”.
Viện Quản trị Chính sách khuyến nghị về xây dựng chính sách thu hút đầu tư, có quỹ hỗ trợ đầu tư từ nguồn thuế tối thiểu toàn cầu, khuyến khích thu hút đầu tư nước ngoài với các chiến lược phát triển bền vững, xây dựng chính sách trên cơ sở Khoa học dữ liệu. Các khuyến nghị đã trở thành dữ liệu quan trọng, được ghi nhận và sử dụng trong nội dung Quốc hội thông qua về thuế suất tối thiểu toàn cầu được thực thi từ 1.1.2024.
Trong thời gian tiếp nối, Viện Quản trị Chính sách tiếp tục phát triển Liên kết Khoa học – Doanh nhân, có phản ứng nhanh nhạy về dự báo chính sách thu hút đầu tư và phát triển kinh tế tư nhân bối cảnh thực thi thuế suất tối thiểu toàn cầu, khẳng định vị thế tiên phong, chủ động đóng góp tích cực của Liên hiệp trong xây dựng các chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước.
Trước tác động của thuế suất tối thiểu toàn cầu và sau hơn 35 năm thu hút FDI. Chính phủ đã chỉ đạo khẩn trương rà soát, có các giải pháp thu hút đầu tư, hỗ trợ khác ngoài thuế trên cơ sở không trái với các quy định và cam kết quốc tế, hài hòa lợi ích giữa các bên. Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam chỉ đạo, Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển chủ trì nghiên cứu báo cáo đánh giá tác động Thuế suất suất tối thiểu toàn cầu và khuyến nghị Chính sách cho Việt Nam, mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh, giải pháp thu hút FDI giai đoạn mới, hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh thuế suất tối thiểu được áp dụng toàn cầu. Để thúc đẩy phát triển Kinh tế tư nhân bối cảnh thuế suất tối thiểu toàn cầu, Viện Quản trị Chính sách tiếp tục mời các chuyên gia, nhà khoa học, lãnh đạo Doanh nghiệp tham gia viết bài:
Ở cấp độ toàn quốc gia, chúng ta nhìn thấy rõ cơ quan quản lý nhà nước đưa ra chính sách, doanh nghiệp và người dân thực thi chính sách. Ở cấp độ doanh nghiệp, Hội đồng Quản trị sẽ là người ra chính sách, quy định, điều hành, thực thi. Tại sao doanh nghiệp lại phát triển?
Thứ nhất, Ngân hàng Quân đội (MB) xuất phát điểm là một doanh nghiệp nhỏ, lúc đầu chỉ có 25 nhân viên và 20 tỷ vốn điều lệ nhưng đến giờ đã trở thành một tập đoàn lớn. Giống như các doanh nghiệp khác, MB cũng khó tiếp cận về vốn ban đầu, khó tuyển được người giỏi ban đầu, khó có các cơ chế vượt trội so với các doanh nghiệp nhà nước hay các tập đoàn khác tại thời điểm đó. Thế nhưng, không có chính sách thì MB xây ra cơ chế chính sách, liên quan tới tổ chức hoạt động kinh doanh, làm những thứ mà khách hàng cần, giải quyết những vấn đề mà thị trường cần.
Thứ hai, MB cũng tạo ra các cơ chế thu hút nguồn lực, coi con người là yếu tố vô cùng quan trọng. Các lãnh đạo của MB cho rằng có con người giỏi là có công nghệ và có tiền, xây dựng cơ chế thúc đẩy về tiền lương, cũng như đãi ngộ đối với nhân tài, thu hút nhân tài về làm việc. Điều này thể hiện rằng chính sách rất quan trọng.
Chính sách đi trước hay thực tế đi trước? Một trong những điểm mới của ngân hàng Quân đội, đó là dám thử, dám thất bại như TS Võ Trí Thành đã nói. Công nghệ phát triển nhanh chóng và môi trường kinh doanh cũng đang thay đổi. Chúng ta không thể biết trước ngày mai mọi thứ sẽ diễn ra như thế nào, nếu không thích nghi với sự thay đổi đó, chúng ta có thể tụt hậu. Vì vậy, hội đồng quản trị của công ty ngân hàng đã áp dụng một cơ chế gọi là “cơ chế thử nghiệm”. Điều này cho phép đơn vị kinh doanh thử nghiệm công nghệ và dịch vụ trong một phạm vi nhất định, sau đó đánh giá và triển khai chúng thành chính sách chung. Một trong những chính sách quan trọng hiện nay là sự chuyển đổi từ nguồn lực truyền thống như vốn và đất đai sang việc tận dụng dữ liệu. Như Viện Quản trị Chính sách đã đề cập đến trong thúc đẩy Khoa học truyền thông chính sách, trong nền kinh tế số, dữ liệu là yếu tố quan trọng. Chúng tôi đã đặt mục tiêu chuẩn số là một trong các chỉ dẫn chiến lược. Điều này đồng nghĩa với việc các quyết định kinh doanh phải dựa trên dữ liệu thay vì cảm tính. Chúng tôi nhận thấy rằng nhiều doanh nghiệp, bất kể lớn hay nhỏ, đang nhìn nhận về tầm quan trọng của dữ liệu. Dựa trên dữ liệu, chúng tôi có thể phân tích và đưa ra quyết định hiệu quả. Ví dụ, trong lĩnh vực tài chính, chúng tôi đã chuyển đổi sang dịch vụ trực tuyến để tăng cơ hội tiếp cận vốn cho khách hàng và doanh nghiệp nhỏ, đồng thời giảm chi phí vận hành. Chúng tôi tin rằng việc này sẽ tạo ra những cơ hội mới và làm tăng hiệu suất kinh doanh trong tương lai.
Ngày hôm qua, hưởng ứng diễn đàn của chúng ta thì có triển lãm, chúng tôi cũng hỗ trợ cho một phiên livestream quảng bá số sản phẩm của doanh nghiệp tham gia triển lãm. Sau 4 giờ thực hiện một phiên livestream, có đến 15 triệu người được biết đến phiên livestream đấy, trong đó có 480.000 người trực tiếp vào xem các sản phẩm và có khoảng 10.000 đơn hàng được thực hiện. Chỉ với một ekip chuẩn bị trong vòng 2 ngày thôi, và khoảng gần 10 người, thì chúng ta có thể tiếp cận, mang sản phẩm đến hàng triệu người tham gia.
Những doanh nghiệp tư nhân hay đặc biệt là những doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải thực hiện chuyển đổi số, ứng dụng các vấn đề mới, các xu hướng mới của xã hội như là social commerce. Trong vòng 3 tháng vừa rồi tôi thấy thế này, rất nhiều bài báo nói về các tiểu thương ở trong các chợ, rất nhiều đường phố, thậm chí phố chính ở Hà Nội hay ở Thành phố Hồ Chí Minh, các cửa hàng cho thuê, những khu đất vàng trước đây không bao giờ trống vắng, thì hiện nay treo biển “cho thuê” mà không có ai thuê. Mọi người nói là do COVID, do kinh tế khó khăn nhưng mà cũng có một yếu tố nữa là tình hình thế giới đã thay đổi, bây giờ ở Việt Nam cũng có hàng triệu người, người ta bán hàng ở trong các khu chung cư, ở trong các khu vực nông thôn, người ta mô tả sản phẩm, giới thiệu sản phẩm. Tôi thấy sơ bộ là, riêng trên TikTok, không nói đến các nền tảng thương mại điện tử lâu năm và doanh thu lớn hơn TikTok. TikTok mới triển khai TikTok shop 2 năm thôi, thì đến cuối năm 2023 chúng tôi nhìn thấy ở trên hệ thống có hơn 2,9 triệu doanh nghiệp, cá nhân phát sinh doanh thu có đóng thuế cho nhà nước. Như thế lượng lao động liên quan đến nền tảng social commerce là hàng chục triệu người. Chính sách của nhà nước có thể cần có những biện pháp hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các bạn thanh niên hay những người yếu thế, những người ở trong xã hội, có thể chuyển đổi kỹ năng của họ, có thể là từ truyền thống sử dụng số, để họ đảm bảo được thu nhập.
Chúng ta đã biết, sức khoẻ là vô cùng quan trọng, ngày xưa thường nói sức khoẻ quý như vàng, nhưng ngày nay chuyển đổi số người ta còn bảo dữ liệu số còn quý hơn cả vàng. Doanh nhân của chúng ta đều phấn đấu, trở thành những người thành đạt, những người thành công trong nước, trên quốc tế. Khối tài sản của doanh nhân càng khổng lồ, càng lớn bao nhiêu thì càng thành đạt bấy nhiêu. Nhưng thưa các doanh nhân thành đạt, nếu chúng ta không có sức khoẻ thì tài sản trở thành di sản. Tất cả chúng ta ở đây, bản thân từng người đã quan tâm đến sức khoẻ chưa? Chúng ta đi ô tô, một năm chúng ta có thể bỏ 1-2 triệu hoặc đến 10 triệu để chúng ta bảo dưỡng, nhưng ở đây các đồng chí chúng ta một năm có bỏ ra được vài triệu để bảo dưỡng sức khoẻ chưa?
Thứ nhất, tôi mong muốn, qua hội nghị này về mọi người sẽ tự chăm sóc sức khoẻ của mình tốt hơn, thông qua chính sách khám sức khỏe được đầy đủ hơn. Bộ y tế nhiều lần ban hành chính sách khám sức khoẻ định kỳ hằng năm. Nhưng thực chất chưa được hợp pháp hoá, gần đây khi mà luật khám bệnh chữa bệnh năm 2009 ban hành và đặc biệt chính cá nhân tôi, tham mưu cho thông tư 14 để khám sức khoẻ trở thành nền nếp. Các doanh nghiệp ở Việt Nam phản ứng dữ dội với bản dự thảo ban đầu, bởi vì đưa rất nhiều chỉ số sức khoẻ và chi phí cao, doanh nghiệp bảo là lỗ, sau đó bộ y tế cũng phải dung hoà, chúng ta chỉ khám sức khoẻ cơ bản thôi, còn khám sức khoẻ nâng cao thì tuỳ doanh nghiệp và tuỳ cơ sở. Bây giờ khám sức khoẻ định kỳ từ 350.000 nghìn đến và đến 2 triệu – 5 triệu tuỳ doanh nghiệp. Nói như vậy cho thấy sức khoẻ quan trọng như vậy nhưng mãi đến năm 2009 chúng ta mới luật pháp hoá được và đến năm 2014 chúng ta mới có thông tư hướng dẫn, cho nên việc xây dựng các chính sách mới vô cùng quan trọng. Khi chính sách khám sức khoẻ đi vào nề nếp và quy thành văn bản pháp luật thì các doanh nghiệp mới khám 100% được.
Thứ hai, là chi phí cho y tế hiện nay là vô cùng lớn, tôi cũng xin thông báo là ví dụ theo số liệu thống kê, thì năm 2023 là bảo hiểm xã hội chi cho y tế là khoảng 110 nghìn tỷ và theo một nghiên cứu, thì hiện người dân phải bỏ ra 40% chi phí tiền túi, 60% là bảo hiểm và ngân sách nhà nước. Vậy tính tổng người Việt Nam chúng ta và cả nước Việt Nam chúng ta chi cho y tế là khoảng gần 200 nghìn tỷ. Rất là lớn, đây là một lĩnh vực rất lớn, cho nên ở đây tôi đưa ra một cái con số như vậy để doanh nghiệp, doanh nhân có ý tưởng rồi, nên dấn thân vào đầu tư cho y tế để y tế tư nhân phát triển.
Thứ ba, chính vì đầu tư y tế lớn như vậy, nên là chính phủ Việt Nam cũng đã nhận thức rất sớm, về việc là ngân sách nhà nước không thể đảm bảo được với những đầu tư như thế này. Ngay từ năm 1995, chính phủ đã ban hành nghị định về viện phí, cho phép thu viện phí tư nhân và đến năm 1997 đã có pháp lệnh hành nghề y tế tư nhân, đã huy động nguồn lực của xã hội để tham gia hành nghề y tế tư nhân. Hiện nay, thưa các quý vị, y tế tư nhân chúng ta có mấy lĩnh vực, phòng bệnh thì hiện nay chúng ta phần lớn vẫn là nhà nước nhưng gần đây thì bắt đầu có tiêm vắc xin của VNPC là tư nhân cũng phát triển. Thế nhưng về khám chữa bệnh, thì hiện nay Đảng và Chính phủ, đặc biệt là Quốc hội giao chỉ tiêu cho ngành y tế là phấn đấu làm sao đạt 15% giường bệnh của y tế tư nhân trên một bệnh nhân. Nhưng hiện nay chúng ta chưa đạt được, chúng ta mới đạt được 6-7%, một số tỉnh đạt được nhưng phần lớn là các tỉnh không đạt được. Cho nên tỉ số chung giường bệnh tư nhân trên tổng giường bệnh chung mới đạt có khoảng 7%. TSKH Phan Xuân Dũng tham gia Quốc hội nhiều năm, thì biết là chưa đạt được tỉ lệ giường bệnh tư nhân, đây cũng là lĩnh vực mà những ai chưa đầu tư, chưa quan tâm thì có thể tìm hiểu, quan tâm đầu tư bệnh viện tư nhân, thúc đẩy bệnh viện tư nhân phát triển.
Thứ tư là về dược, phải nói là lĩnh vực dược cũng vô cùng hấp dẫn và thích thú, và hiện nay tôi cho là trong y tế tư nhân thì lĩnh vực dược cũng phát triển. Chi phí bình quân một người dân Việt Nam khoảng 75 đô một năm, chi cho mua thuốc, cho nên là chúng ta nhân với lại 100 triệu, 99 triệu. Vậy 1 năm cũng khoảng 7.5 tỉ tiền thuốc chi cho toàn dân Việt Nam. Tôi cho đây là một lĩnh vực lớn, tôi thông báo một cái thông tin như vậy, rất mong những doanh nghiệp nhất là những doanh nghiệp trẻ nghiên cứu đầu tư về lĩnh vực y tế, tức là phòng bệnh, khám chữa bệnh và lĩnh vực dược là những kiến nghị lớn, còn trang thiết bị hiện nay chúng ta là phần lớn nhập ngoại những trang thiết bị hiện đại, còn trang thiết bị vật tư tiêu hao ở trong nước thôi cho nên đây cũng là một khoảng trống, một khoảng đất màu mỡ để chúng ta tiếp tục đầu tư, một con số như vậy.
Tiếp theo là về chuyển đổi số, y tế số có đặc thù riêng, đến giờ phút này về cơ sở pháp lý để triển khai y tế số ở Việt Nam, về cơ bản đáp ứng được nhu cầu hiện tại. Còn tất nhiên chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện, ví dụ như luật về công nghệ thông tin, luật giao dịch mạng, luật về chữ ký số,…thì đã có những văn bản quy phạm của pháp luật về y tế là thông tư quy định về hoạt động y tế trên môi trường mạng 2013, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện năm 2015, hồ sơ bệnh án điện tử, hồ sơ bệnh án số 2016, về y tế từ xa về năm 2017… Thì như vậy những ứng dụng công nghệ thông tin trong dự phòng, trong đào tạo là có hướng dẫn đầy đủ.
Quảng Ninh là một trong những tỉnh tôi đánh giá là chuyển đổi số rất tốt và điển hình là hiện nay. Hiện nay chúng ta có khoảng 1300 bệnh viện trên toàn quốc, Bộ Y tế đặt ra là đến 31 tháng 12 năm 2023, thì chúng ta có khoảng 135 bệnh viện triển khai bệnh án điện tử, bệnh án số, bỏ bệnh án giấy hoàn toàn, thì hiện tại mới có đến 70 bệnh viện. Mà đến thời điểm này, sau Quý 1 năm 2024 thì chúng ta có đến khoảng 80 bệnh viện, thế nhưng vẫn không đạt được yêu cầu. Nhưng Quảng Ninh đã có 3 bệnh viện làm Y tế số rồi, tôi cho rằng Quảng Ninh là một tỉnh tiên phong về Y tế số rất là tốt. Chúng tôi cũng rất là thấm nhuần, vì là quản lý nhà nước nên rất hiểu vai trò.
Qua Hội nghị tôi cũng mong muốn, các doanh nghiệp, doanh nghiệp tư nhân, đầu tư hơn nữa cho y tế số, cho y tế tư nhân, phải đồng hành cùng y tế nhà nước. Đưa sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ nhân dân Việt Nam lên một tầm cao mới hơn, người dân Việt Nam có quyền bình đẳng với nhân dân các nước trên thế giới, được hưởng những dịch vụ y tế chất lượng cao. Chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định cụ thể hết sức quan trọng, thúc đẩy xã hội phát triển, là thước đo để xã hội cùng thực hiện một mục tiêu chung.
Hiện BuyMed đang hợp tác với hơn 1,000 công ty Dược, đặc biệt là đối tác phân phối chiến lược, toàn diện của các nhãn hàng uy tín như Durex, Phosphalugel, Strepsils. Hơn 30,000 nhà thuốc trên toàn quốc dễ dàng tiếp cận nguồn dược phẩm chính hãng, giá tốt qua sàn thương mại điện tử của BuyMed hàng tháng. Nhận thức tính cấp bách của việc phát triển nhân lực y tế tuyến cơ sở, sẽ giúp Buymed hoàn thiện chuỗi giá trị cho nhà thuốc, đồng thời nâng cao chất lượng tư vấn và điều trị cho bệnh nhân, chúng tôi thường xuyên đưa ra các giải pháp đào tạo liên tục, chuyên sâu dành cho dược sĩ địa phương. Trong những năm qua, BuyMed kết hợp cùng các tập đoàn đầu ngành như Dược phẩm Sohaco, Nhãn hàng Cetaphil, Boehringer, Sanofi Việt Nam triển khai các khoá học, cấp chứng chỉ chuyên môn cho dược sĩ trên toàn quốc, nhất là ở vùng xâu vùng xa như Cà Mau, Đồng Tháp. BuyMed đã trao tặng nhiều tủ lạnh âm sâu trữ vắc xin trong giai đoạn COVID đầy khó khăn, tận dụng hạ tầng cung ứng rộng khắp 63 tỉnh thành để đáp ứng đầy đủ thuốc men cho nhà thuốc. Qua hội nghị, tôi có hai ý kiến:
Cần có quỹ và giải pháp nguồn vốn đặc thù cho lĩnh vực y tế nói chung và ngành dược nói riêng. Nhà thuốc khách hàng của Buymed thì không tiếp cận được nguồn vốn nào cả, trong khi hộ kinh doanh là một khối lớn trong kinh tế tư nhân.
Cần thiết kế chính sách cho nền kinh tế chia sẻ trong nhượng quyền nhà thuốc và lộ trình mua thuốc qua mạng.
Ở Việt Nam bắt đầu có mô hình kinh tế chia sẻ, thiết kế chính sách nên tập trung cho việc nhận diện ra cái nền kinh tế chia sẻ này, ví dụ như Grab cũng mới có nhận diện gần đây thôi là có hợp tác xã giao thông, nhưng trong ngành dược thì ở đây chắc ai cũng biết Long Châu, Pharmacity kể cả những chuỗi nhà thuốc này cũng chưa được pháp lý công nhận và chưa các chính sách mua thuốc qua mạng. Từng nhà thuốc của họ phải hiện diện là một nhà thuốc riêng lẻ. Chưa từng nói đến kinh tế chia sẻ về mô hình nhượng quyền nhà thuốc. Tôi trăn trở vì đã thấy việc này 6 năm trước và đến giờ thì vẫn vậy.
Viện Quản trị Chính sách và chiến lược phát triển đã xây dựng nội dung này rất hay, rất hợp xu hướng. Chuỗi Sự kiện Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân trong hai ngày do Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống và Viện Quản trị Chính sách thiết kế nội dung, được chỉ đạo và tổ chức bởi Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Ủy ban nhân dân Tỉnh Quảng Ninh, Liên đoàn thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Viện Quản trị Chính sách, Hội doanh nhân trẻ Việt Nam đã là một bước cụ thể hoá, thực hiện nghị quyết 41 và phát huy vai trò của nhân dân trong phát triển đất nước, trong đó lực lượng nòng cốt là các doanh nhân và khoa học. Trong nội dung của chuỗi hoạt động chúng ta nói chuyện văn hoá số, chuyển đổi số, kinh tế số,…. Từ khi xảy ra đại dịch COVID 19 đến nay, thì chuyển đổi số, kinh tế số lại càng phát triển, có nhiều yêu cầu mới. Văn hoá đi liền với kinh tế, đi liền với phát triển xã hội, quốc phòng an ninh, đi liền với đối ngoại.
Tôi nghĩ là các tỉnh thành, các ngành các bộ, các đoàn thể đều quan tâm làm sao chúng ta thực hiện nghị quyết này, ở phạm vi địa bàn của mình, phạm vi lĩnh vực của mình như thế nào để đạt hiệu quả cao. Tính đến nay chúng ta mới có 6 tháng để mà thực hiện nghị quyết này thôi nhưng chúng ta thử hình dung xem là 10 năm sau chúng ta ngồi lại, tổng kết 10 năm thực hiện nghị quyết trung ương, chúng ta sẽ có những nội dung gì phát triển lên được, có những nội dung nào chúng ta đẩy mạnh được tốc độ và khắc phục những hạn chế. Hôm nay ngồi đây chúng ta có thể chưa nhìn ra hết, nhưng rồi dần dần trong quá trình phát triển lịch sử, chúng ta sẽ thấy.
Hội nghị hôm nay là điểm khởi đầu để chúng ta đẩy tiến độ thực hiện nghị quyết của trung ương.
Hôm nay Hội nghị có liên kết Doanh nhân – Khoa học, và trên địa phương Quảng Ninh, tôi chia sẻ về một thị trường còn nhiều dư địa phát triển. Năm 2023, Chính phủ phê duyệt Đề án “Tăng cường hợp tác quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam đến năm 2030” đưa ra các định hướng lớn mang tầm quốc gia về huy động các nguồn lực quốc tế để xây dựng và phát triển ngành Halal Việt Nam bài bản, chuyên nghiệp, toàn diện.
Đề án tạo hướng đi mới trong triển khai công tác ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển, giúp khai mở thị trường Halal giàu tiềm năng có quy mô lên tới 10.000 tỷ Đô la Mỹ trên phạm vi toàn thế giới vào năm 2028 và tạo thêm động lực mới cho phát triển kinh tế bền vững của nước ta, nhất là khi các thị trường truyền thống đang gặp không ít khó khăn do lạm phát, suy thoái kinh tế.
Thế giới có hơn 8 tỉ người. Thị trường Halal toàn cầu có quy mô rất lớn với khoảng 1,94 tỷ người vào năm 2022, chiếm gần 1/4 dân số thế giới và còn có xu hướng gia tăng.
Quy mô nền kinh tế Halal toàn cầu đạt tới 7.000 tỷ USD năm 2022 và dự kiến tăng lên mức khoảng 10.000 tỷ USD trước năm 2028. Thị trường tiêu thụ sản phẩm Halal phân bổ rộng khắp trên thế giới, từ các nước Hồi giáo đến phi Hồi giáo. Mức chi tiêu và sử dụng các sản phẩm Halal có xu hướng ngày càng tăng, mở rộng sang cả thị trường phi Hồi giáo do sản phẩm Halal đáp ứng nhiều tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng và bảo vệ môi trường. Hơn nữa, các quốc gia sản xuất Halal lớn nhất trên thế giới phần lớn không phải là các quốc gia Hồi giáo.
Đến 2050 dân số phát triển nhanh nhất là ở đâu, chính là các nước Châu Phi, đặc biệt là các nước Châu Phi cận Sahel. Dự đoán đến năm 2050, 50% dân số trẻ thế giới là từ vùng này, trong khi các nơi khác như là TS Võ Trí Thành và TS Vũ Đình Ánh vừa nói, rằng dân số của Nhật giảm, Hàn Quốc giảm, Nga cũng giảm, Trung Quốc cũng giảm, Thái Lan cũng giảm mà Việt Nam chúng ta đến năm 2050 có khi cũng rơi vào cái tình trạng như thế. Thế giới đang nhìn vào thị trường Châu Phi đầy tiềm năng, và bây giờ doanh nghiệp nên nhìn sang Châu Phi để định hướng xem thị trường này chúng ta có thể phát triển cái gì không.
Quay lại chuyện Halal, tôi đề nghị, doanh nhân chúng ta phát triển doanh nghiệp cung cấp sản phẩm dịch vụ cho du lịch Halal, thực phẩm Halal, dược phẩm Halal, mỹ phẩm Halal, tất cả những gì liên quan đến thị trường Halal từ Việt Nam sản xuất được. Chúng ta hãy nhìn ra thế giới, hãy tìm hiểu xem là Australia làm như thế nào, Malaysia làm như thế nào, Trung Quốc làm như thế nào, Thái Lan làm như thế nào để thu hút người hồi giáo đến các nước đó, và tôi rất mong rằng người Hồi giáo sẽ đến Việt Nam, sẽ quan tâm đến các sản phẩm du lịch dịch vụ của Việt Nam.
Năm ngoái, riêng Quảng Ninh thôi là đã thu hút 15 triệu lượt khách du lịch, 3 tháng đầu năm nay là 5,4 triệu lượt khách du lịch đến Việt Nam. Tôi nghĩ rằng làm sao chỉ riêng Quảng Ninh thu hút được 1/1000 của người hồi giáo trên thế giới đến du lịch Vịnh Hạ Long chẳng hạn, thì chúng ta có thêm 2 triệu lượt khách du lịch.
Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân cần đưa các định hướng nghiên cứu thúc đẩy chính sách phát triển ngành Halal Việt Nam toàn diện, chuyên nghiệp, khai mở một thị trường lớn, tiềm năng và tạo thêm sinh lực mới cho sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.
Thắng, thua, thành, bại của đất nước là nhờ doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân đặt trong bối cảnh tổng thể của hệ sinh thái. Các hệ sinh thái không chỉ là câu chuyện khoa học mà là câu chuyện của tư duy chính sách. Chúng ta muốn có một hoạt động nào thì phải gắn với rất nhiều bên liên quan. Phải kết nối và kết nối chính là từ chốt nhất của chuyển đổi số. Đằng sau là xử lý thông tin thông minh là AI, Blockchain, Cloud,… bản chất là kết nối thông qua xử lý dữ liệu. Hai từ kết nối với hệ sinh thái là nền tảng nhất của chuyển biến về chính sách, về mô hình kinh doanh hiện nay. Quản trị trước kia và ngay hiện nay Việt Nam còn vướng rất nhiều, ở tầm doanh nghiệp là quản trị theo tuyến tính: cấp trên cấp dưới, ra lệnh,… bây giờ xử lý thông tin và quản trị gắn với hệ sinh thái và kết nối, tốc độ nhanh, linh hoạt. Hãy làm, học hỏi và có thể làm lại. Không có gì phải chờ đến sự hoàn hảo 100%, sự chắc chắn 100%. Nếu anh nghĩ ra một trò chơi mà 80% thị trường cũng nghĩ được thì đừng nên làm, bởi vì cạnh tranh kinh lắm. Hãy nghĩ ra trò chơi chỉ 20% người nghĩ ra được thôi và chắc chắn là sẽ có rủi ro và nhiều điều mình chưa biết. Nhưng hãy làm và tôi nói nhỏ, tất cả những thành công nhất ở Việt Nam về cải cách, chính sách đều là bắt đầu từ chỗ hơi liều một chút, cứ làm đi, chứ đừng phải hiểu biết tất cả. Trong tất cả các hệ sinh thái ở tầm lớn, cuộc chơi có 2 vị trí trung tâm và đây là tư duy thay đổi chính sách. Trung tâm thứ nhất là doanh nghiệp, ví dụ trước kia nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thì bây giờ doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Và bên cạnh đấy rất quan trọng đó là thông tin và truyền thông. Có thể là đa kênh, cách truyền thông khác nhau, không ngẫu nhiên mà truyền thông giữ sức mạnh ngang ngửa với chính trị. Thế giới này không thiếu tài năng, không thiếu tiền nhưng cái thiếu nhất là thiếu tài năng của chính mình để thu hút tài năng khác. Bác Hồ có thể không phải là người tài nhất, nhưng Bác Hồ là người giỏi nhất trong trọng người. Hãy làm, đừng chờ đến khi biết hết, hãy làm, thử, học hỏi và có thể làm lại. và đấy chính là dám nghĩ, dám làm, dám sáng tạo.
Từ chính sách ra cuộc sống tôi cho rằng tư duy này không sai nhưng chưa đủ. Chúng ta đã đặt một trạng thái rất thú vị tức là chính sách đi trước, cuộc sống đi sau, chúng ta đưa chính sách vào cuộc sống. Và thậm chí trong một số trường hợp chúng ta đưa không thành công, thì chúng ta đang đặt chính sách đối lập với cuộc sống. Gốc của vấn đề rất nhiều chính sách của chúng ta không bắt nguồn từ cuộc sống hoặc ít nhất là chưa bắt nguồn từ cuộc sống. Quy trình làm chính sách của chúng ta khá phức tạp, dài dòng và nhiều nội dung quy trình cơ chế, tưởng là chặt chẽ, nhưng chưa ổn. Ví dụ, vừa rồi chúng ta ban hành luật đất đai là một chính sách cực lớn, chúng ta đưa thông tin thế này có 12 triệu lượt ý kiến góp ý vào luật đất đai. Cả thế giới kinh ngạc chắc là không có nước nào trên thế giới làm luật mà nhân dân đóng góp tới 12 triệu lượt ý kiến. Tôi nghi ngờ những cái đóng góp của 12 triệu lượt ý kiến đó, trong khi bản thân tôi đóng góp hết sức chân thành tập trung vào lĩnh vực của tôi là tài chính đất đai. Cuối cùng đưa vào luật đất đai chỉ được đúng 2 điểm. Điểm thứ nhất là bỏ cái chuyện xác định giá đất theo giá thị trường và thay bằng giá đất theo nguyên tắc thị trường. Cái thứ hai trong cái định giá đất là yêu cầu đưa cái phương pháp định giá luật đất vào trong luật đất đai. Từ khi tôi lầm chính sách, đúc kết hơn 30 năm. Chúng ta loay hoay tập trung vào rất nhiều nội dung chính sách. Trong khi đó chúng ta bỏ qua ít nhất là 3 vấn đề rất quan trọng. Ngay từ đầu, mục tiêu chính sách chúng ta ban hành để làm gì. Cái quan trọng đầu tiên khi anh chị muốn góp ý câu chuyện chính sách là mục tiêu phải rất rõ ràng mà Việt Nam thì có một đặc điểm rất thú vị. Chúng ta đặt rất nhiều mục tiêu trong chính sách, thậm chí những mục tiêu đó xung đột và mâu thuẫn với nhau. Thứ hai cần lưu ý nội dung chính sách. Khoảng 10 năm trở lại đây, chúng ta khi ban hành chính sách phải đánh giá rất kỹ tác động của chính sách. Mỗi một chính sách, đặc biệt là chính sách kinh tế vĩ mô luôn luôn có tác động xuôi chiều, tác động tích cực và tác động ngược chiều, thậm chí là tiêu cực. Chúng ta phải cân nhắc khi đánh giá cả tích cực và tiêu cực và chúng ta chọn cái ít tiêu cực và nhiều tích cực hơn. Đấy là đánh giá tác động và đánh giá rất cụ thể. Ít khi chúng ta nói về câu chuyện đối tượng chính sách, chính sách tác động đến ai.
Tôi làm việc với rất nhiều Hiệp hội doanh nghiệp và hết sức lưu ý là các bạn đại diện cho những ngành nghề rất cụ thể. Hơn ai hết phải hiểu rất rõ đặc điểm, tính chất, công việc các thành viên hiệp hội của mình. Các hiệp hội là một thành tố trong góp ý chính sách, trong cái triển khai chính sách và rất nhiều thứ khác. Nhưng hơn ai hết, các hiệp hội hãy chọn những người đại diện cho mình, những người lãnh đạo hiệp hội là những người cực kỳ am hiểu để có thể bảo vệ được lợi ích cho các thành viên của mình. Trong quá trình chúng ta tham gia đóng góp vào những chính sách thì phải nắm rất chắc quy trình hình thành chính sách. Những căn cứ để chúng ta góp ý rất quan trọng. Cách đây khoảng 20 năm người ta nói rất hay và tôi cho rằng đến bây giờ vẫn đúng: “hãy tư duy toàn cầu”. tôi khẳng định với anh chị trong một triệu doanh nghiệp Việt Nam hiện nay tôi biết không dưới khoảng gần 1 ngàn doanh nghiệp không còn nhỏ bé, làm ăn chộp giật nữa. Họ đã lớn, rất to, tầm cỡ, thậm chí là toàn cầu, hãy tôn trọng tư duy toàn cầu của họ. Và tôi mong rằng các doanh nghiệp Việt Nam, trong đó có các doanh nghiệp trẻ ở Quảng Ninh sẽ dần dần đóng góp vào danh mục các doanh nghiệp như vậy. Doanh nghiệp tư nhân của chúng ta bây giờ không còn như ngày xưa chúng ta nghĩ nữa. Chính sách gì thì chính sách, hành động gì thì hành động nhưng luôn rất mong các anh chị lấy một điều sáng tạo. Đó là bí quyết chiến thắng, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn cầu.
Cơ hội cải cách để thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
Có thể thấy thời gian qua, Chính phủ thể hiện nhiều nỗ lực để củng cố niềm tin, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển. Tuy nhiên, doanh nghiệp cả nước nói chung vẫn gặp nhiều khó khăn. Tích lũy của doanh nghiệp trong nhiều năm cũng dần cạn, buộc doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh, cắt giảm lao động hoặc thậm chí phải ngừng hoạt động. Doanh nghiệp và nền kinh tế đã và đang phải chống chọi với các tác động bất lợi chưa từng có. Áp lực và thách thức dường như vẫn đè nặng doanh nghiệp trong thời gian tới.
Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp hơn bao giờ hết cần sự hỗ trợ thiết thực và hiệu quả từ cải cách của Chính phủ và sự đồng hành của chính quyền địa phương. Kinh nghiệm quốc tế cũng như trong nước cho thấy cải cách mạnh mẽ, cải thiện môi trường kinh doanh là hỗ trợ thiết thực, hiệu quả và có giá trị nhất đối với doanh nghiệp trong thời kỳ sau khủng hoảng. Đây cũng là thời điểm để tạo đột phá về cải cách, qua đó giúp nền kinh tế phục hồi và phát triển.
Môi trường kinh doanh sẽ tác động đến cách thức vượt qua khó khăn và mức độ tận dụng cơ hội của các doanh nghiệp trong quá trình phục hồi. Trong bối cảnh khó khăn hiện nay, nhà đầu tư, doanh nghiệp đang có tâm lý chờ đợi, nghe ngóng các động thái chính sách, hàng lang pháp lý và hành động cải cách, cải thiện môi trường kinh doanh của Chính phủ và của chính quyền địa phương. Để đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và phát triển, đồng thời kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, hấp dẫn các nhà đầu tư, chiến lược phát triển kinh tế tư nhân phải nằm trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế Quốc gia và Chiến lược phát triển Việt Nam.
Nghiên cứu và truyền thông dự thảo chính sách:
Sản phẩm chính sách cần phải dựa trên cơ sở dữ liệu chính sách, bao trùm về xu hướng quốc tế, tầm nhìn Việt Nam và hành động địa phương, tổng hợp được hệ thống chủ trương, chiến lược, văn bản đã được ban hành liên quan đến chủ đề của chính sách, từ đó chọn lọc được đúng nội dung cốt lõi, mục tiêu trọng tâm, đến đúng đối tượng, đúng kênh truyền thông, đúng tính thời điểm.
Truyền thông chính sách phải được tổ chức liền mạch, hệ thống dữ liệu, nội dung tổng quát, chuyên sâu. Truyền thông chính sách cần bao gồm cả mục tiêu truyền thông trong nội bộ các cơ quan dự thảo chính sách, để văn bản ban hành mang tính thống nhất cao, dễ dàng chỉ đạo và thực hiện.
Liên kết Khoa học và Doanh nhân đổi mới và phát triển theo mô hình cơ quan truyền thông chính sách công nghệ
Vòng tròn Chính sách đưa ra chiến lược hình thành liên kết công tư, hợp tác phát triển cơ quan truyền thông tích hợp công nghệ, các đơn vị truyền thông chính sách cần có mô hình công nghệ hợp tác, quy tụ được nhân tài công nghệ, có khả năng liên kết hệ thống thông tin truyền thông và phân tích dữ liệu để nghiên cứu phát triển những sản phẩm truyền thông chính sách công nghệ mới. Từ hệ sinh thái nghiên cứu và truyền thông chính sách và liên kết Khoa học – Doanh nhân, các chuyên gia nghiên cứu và các đơn vị truyền thông chính sách sẽ đồng hành cùng các nhân viên công nghệ trong quá trình thu thập khảo sát dữ liệu, lấy ý kiến trong quá trình hoạch định chính sách, tăng cường trải nghiệm cho người tham gia ý kiến khảo sát theo các nội dung truyền thông chính sách được sản xuất và phân phối đa nền tảng, đa phương tiện.
Mục tiêu là người dân, doanh nghiệp có thể tiếp cận thông tin chính sách tập trung, hệ thống chính sách đồng bộ theo lĩnh vực, theo chủ đề. Những góp ý, kiến nghị chính sách cần được hệ thống để chuyên gia, các nhà quản lý, các đơn vị hoạch định chính sách, các lãnh đạo, các cơ quan thu thập dữ liệu, truyền thông đều có thể tiếp cận được.
Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng: Đến năm 2025 Việt Nam là nước đang phát triển có nền công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Đây là mục tiêu lớn, đầy thử thách với đất nước ta, nhất là trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới có nhiều bất ổn. Thưa Phó Thủ tướng, làm thế nào để bảo đảm triển khai thực hiện Chương trình hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra?
Kiên trì giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, năng lực cạnh tranh, tính tự chủ, khả năng chống chịu, thích ứng của nền kinh tế. Điều hành linh hoạt, phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác; kiểm soát chặt chẽ lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Huy động, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; bảo đảm công khai, minh bạch, chống lợi ích nhóm, tiêu cực trong phân bổ và sử dụng các gói hỗ trợ.
Có thể nói, cùng với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chỉ đạo sát sao của BCHTW, Bộ Chính trị, sự đồng hành, ủng hộ của Quốc hội, Chính phủ đã kịp thời ban hành Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội với các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể phân công cho từng Bộ, ngành, địa phương. Việc triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình sẽ thúc đẩy phục hồi, tăng trưởng kinh tế, tạo ra động lực mới cho phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo tiền đề để chúng ta phấn đấu hoàn thành các mục tiêu đặt ra theo các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội.
Phát biểu của đồng chí Lê Minh Khái, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ trả lời Độc quyền Chuyên gia Nguyễn Thy Nga tại Phim Quảng Ninh – Bước chuyển mình mạnh mẽ, sản xuất bởi Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống phối hợp với Tạp chí Cộng sản, Hội đồng lý luận Trung ương, Văn phòng Chính phủ.
Từ đầu nhiệm kì, Chính phủ xây dựng thông điệp “đổi mới, liêm chính, kỷ cương, hành động, hiệu quả, vì nhân dân phục vụ”. Trên cơ sở bám sát quan điểm tiếp cận toàn dân, lấy người dân, doanh nghiệp là trung tâm, là chủ thể và lấy cấp cơ sở là nền tảng hỗ trợ. Và để hỗ trợ tốt nhất cho người dân, doanh nghiệp, đòi hỏi Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế – xã hội cần giải quyết các vấn đề trước mắt, đồng thời tính tới các vấn đề bền vững lâu dài, gắn kết chặt chẽ, hiệu quả với việc đẩy mạnh thực hiện các đột phá chiến lược. Thưa Phó Thủ tướng, các cơ chế, chính sách chủ yếu của Chương trình và nguồn lực thực hiện các cơ chế, chính sách đó là gì?
Nhóm giải pháp đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.
Mục tiêu trọng tâm trong ngắn hạn là kích thích tổng cầu, tạo việc làm, thúc đẩy đầu tư ngoài nhà nước; trong dài hạn nhằm cải thiện chất lượng cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông chiến lược; hạ tầng số; hạ tầng y tế; hạ tầng bảo trợ xã hội; du lịch và các dự án bảo đảm an toàn hồ chứa, phòng chống sạt lở bờ sông, bờ biển, thích ứng biến đổi khí hậu. Qua đó, làm giảm chi phí xã hội, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển kinh tế – xã hội trong trung và dài hạn.
Nhóm giải pháp cải cách thể chế, cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.
Mục tiêu cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, giảm chi phí và tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy phục hồi kinh tế – xã hội nhanh và phát triển bền vững.
Nhóm giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Các chính sách bao gồm chính sách áp dụng chung và chính sách áp dụng riêng trong từng ngành, lĩnh vực: Vận tải; kinh doanh dịch vụ lữ hành, du lịch; sản xuất, chế biến nông, lâm, thủy sản; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh chuyển đổi số, khởi nghiệp sáng tạo.
Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát huy vai trò đội ngũ doanh nhân trong tình hình mới đã khẳng định: “Đội ngũ doanh nhân có vị trí, vai trò quan trọng, là một trong những lực lượng nòng cốt góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế; …”. Các địa phương cần chủ động tăng cường liên kết, hỗ trợ, tạo điều kiện để phát triển đội ngũ doanh nhân, tích cực hợp tác với các hiệp hội ngành hàng, hội doanh nhân để thúc đẩy họ tham gia sâu hơn nữa trong xây dựng chính sách; qua đó nhằm tăng cường năng lực góp ý chính sách, phản biện xã hội đồng thời tận dụng mối liên kết với cơ sở dữ liệu thực tiễn của doanh nghiệp để hướng tới thực hiện mục tiêu Từ Chính sách ra Cuộc sống và Từ cuộc sống vào chính sách được kết nối mạnh mẽ.
Hiện nay phần lớn các dịch vụ công được cung cấp rời rạc, đơn lẻ bởi các cơ quan khác nhau. Điều này khiến cho tổ chức, cá nhân phải thực hiện nhiều thủ tục rời rạc, đi lại nhiều lần tới các cơ quan, điền biểu mẫu với các thông tin lặp đi lặp lại làm tăng chi phí xã hội, do vậy làm cho doanh nghiệp, người dân không hài lòng với dịch vụ công của cơ quan nhà nước. Điều này càng nhức nhối đối với các nhóm sự kiện diễn ra trong bối cảnh không thuận lợi.
Cung cấp dịch vụ công theo sự kiện đời sống là một cách tiếp cận mới để nâng cao chất lượng dịch vụ công của chính quyền với doanh nghiệp, người dân trong đó các dịch vụ công được sắp xếp, tích hợp theo các sự kiện người dân trải qua trong đời sống.
Doanh nghiệp không cần thiết phải biết hoặc không quan tâm tới cơ quan nào giải quyết hồ sơ dịch vụ công. Do vậy, chính phủ các nước đã xây dựng Cổng Dịch vụ công tập trung để tổ chức, cá nhân có thể truy cập, thực hiện. Cổng Dịch vụ công được phát triển theo sự kiện đời sống để đáp ứng, tạo thuận lợi cho người dùng vì thực tế cho thấy phần lớn người dùng không biết hoặc không có thông tin về các dịch vụ phải thực hiện khi gặp một sự kiện trong cuộc đời của mình. Ví dụ, người dùng muốn biết phải thực hiện những dịch vụ công nào khi thành lập doanh nghiệp, mở chi nhánh, …. Khi đó, Cổng Dịch vụ công phải được thiết kế, tổ chức lại trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá các thủ tục hành chính, dịch vụ công trên cơ sở thực hiện kết nối, chia sẻ các thông tin, dữ liệu giữa các Bộ, ngành, địa phương khi doanh nghiệp, công dân đối diện với các sự kiện trong vòng đời một con người hoặc một doanh nghiệp.
Kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương để cung cấp dịch vụ công cho doanh nghiệp theo nguyên tắc lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm.
Trước hết, tổng quan ngắn gọn về tình hình thu hút FDI của nước ta trong 35 năm qua. Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2023, Việt Nam đã thu hút được gần 440 tỷ USD vốn FDI, trong số đó có tới 274 tỷ USD đã được giải ngân và thực hiện các dự án đầu tư nước ngoài, tương đương với 62,5% tổng số vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực. Trong tổng vốn FDI vào ASEAN trong giai đoạn 2010 – 2021, Việt Nam chiếm khoảng 7-10%, xếp vị trí thứ ba tại khu vực. Theo số liệu về FDI cập nhật thì thu hút FDI đang phục hồi mạnh mẽ. Cụ thể, trong 11 tháng tính từ đầu năm, vốn FDI vào VN tăng gần 15%, đạt 28,85 tỉ USD, trong đó vốn đăng ký mới tăng mạnh hơn 42%. Đặc biệt, vốn thực hiện của các dự án FDI tính hết tháng 11 tăng gần 3%, ước đạt khoảng 20,25 tỉ USD, mức cao nhất trong vòng 6 năm qua, kể cả so với thời kỳ trước đại dịch.
FDI đã trở thành nguồn lực quan trọng trong tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội và có đóng góp đáng kể cho tăng trưởng của nền kinh tế trong 35 năm qua. Nguồn vốn này có đóng góp quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, thúc đẩy và mở rộng thị trường xuất khẩu, chuyển đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu và từng bước đưa Việt Nam tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần chuyển giao công nghệ, tạo việc làm, thu nhập cho hàng chục triệu lao động, tăng năng suất lao động và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, đồng thời cũng đóng góp tích cực hoàn thiện thể chế kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh. Khu vực FDI đã trở thành đầu tàu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam với tỷ trọng ngày càng tăng trong tổng kim ngạch xuất khẩu, chiếm lớn hơn 70% tổng giá trị xuất khẩu của cả nước, và cán cân thương mại của khối doanh nghiệp FDI có thặng dư lớn, đóng góp tích cực vào chuyển dịch cán cân thương mại của đất nước.
Tuy nhiên, một trong những hạn chế lớn nhất là sự thiếu liên kết giữa khối FDI với doanh nghiệp trong nước, và chuyển giao công nghệ chưa hiệu quả. Thực tế là các công ty nội chưa thể theo dấu “đại bàng” để cất cánh. Nguyên nhân là công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa phát triển đủ nhanh, việc đào tạo nguồn nhân lực về công nghệ cao và đưa các doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam hợp tác với FDI chưa tương xứng. Đã có nhiều câu hỏi là “Nếu nhà đầu tư nước ngoài có thiện chí chuyển giao công nghệ, họ sẽ chuyển giao cho ai?”.
Trên thực tế, Việt Nam đã làm tốt việc thu hút số lượng dự án, nhưng chưa chủ động tận dụng hết cơ hội để học hỏi từ nhà đầu tư nước ngoài. Liên kết giữa FDI với doanh nghiệp trong nước còn lỏng lẻo. Số doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi cung ứng doanh nghiệp nước ngoài còn hạn chế. Thực tế 35 năm qua cho thấy nguồn vốn FDI dồi dào đã đưa Việt Nam có tên trên bản đồ thương mại thế giới, nhưng chưa thể kéo nền kinh tế lên nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Đánh giá mọt cách tổng thế, có thể thấy dù có những hạn chế, FDI 35 năm qua đã bắt đầu từ con số 0 sau chiến tranh, thành công là chủ yếu, tồn tại là tất yếu trong một quá trình phát triển nhanh.
Việc Quốc hội vừa thông qua thuế TNDN bổ sung thực hiện thuế tối thiểu toàn cầu vừa tạo ra một thách thức trong thu hút FDI của Việt Nam. Cụ thể, khả năng cạnh tranh trong thu hút FDI của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng trong ngắn hạn khi khung thuế ưu đãi thay đổi. Nhưng điều này cúng tạo cơ hội lâu đài cho Việt Nam là chúng ta sẽ cạnh tranh sòng phẳng với các nước đang cố gắng thu hút FDI, góp phần chấm dứt cuộc đua xuống đáy về thuế và các ưu đãi dạng thuế với các nước trong khu vực.
Vấn đề đặt ra là chính sách phi thuế của ta sẽ như thế nào, các điều kiện để hấp dẫn FDI nói chung, đặc biệt là dòng vốn FDI chất lượng cao hơn và hướng tới việc chúng ta có tham gia liên kết sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu với những lĩnh vực như năng lượng tái tạo, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, các dòng vốn FDI chất lượng, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao, dịch vụ giá trị gia tăng, kinh tế số.
Với các tỉnh chú trọng thu hút FDI, nguồn vốn FDI có vai trò quan trọng trong quá trình thức đẩy tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm.
Thứ nhất, Các địa phương phải cạnh tranh với chính mình trong việc gia tăng tỷ trọng của nguồn vốn FDI xanh, thúc đẩy đóng góp hướng tới đô thị thông minh, là nơi đáng sống, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, gắn kết với doanh nghiệp trong nước của tỉnh để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị để tạo ra 1 năng suất cao hơn, thức đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao chất lượng tăng trưởng, góp phần sớm vượt qua bẫy thu nhập trung bình.
Thứ hai, phải cạnh tranh với các địa phương khác trong việc vẫn phải tiếp tục gia tăng quy mô thu hút FDI. Sự vượt lên của một số địa phương vốn từng là tỉnh ít thu hút FDI là tín hiệu đáng chú ý. Các tỉnh này đều có điểm chung là quỹ đất phong phú, có sự kết nối hạ tầng tốt nhờ hệ thống cao tốc mới và môi trường đầu tư có nhiều cải thiện. Tại các địa phương đã thu hút mạnh FDI trong thời gian vừa qua, nhân lực sẽ bị cạnh tranh trong thu hút, nhất là bối cảnh hậu đại dịch. Các địa phương đang ở tốp dẫn đầu trong thu hút FDI sẽ giảm dần lợi thế do quỹ đất cạn kiệt, thiếu hụt nguồn lao động, do phải cân nhắc ưu tiên các dự án xanh, dự án công nghệ thông tin,… Do vậy, muốn đẩy mạnh việc thu hút các dự án mới, các tỉnh cần nhanh chóng tháo gỡ điểm nghẽn, nâng vị thế và các điều kiện tiên phong của sếu đầu đàn trong việc phát huy lợi thế và kinh nghiệm giảm chi phí và rủi ro thông qua cải cách môi trường kinh doanh, minh bạch, công khai hơn nữa từ quy hoạch, chính sách đến thi hành pháp luật.
Kinh tế tư nhân đang đứng trước nhiều thách thức nhưng cũng rất nhiều những cơ hội, để tạo ra những giá trị mới, đưa Việt Nam phát triển lên một tầm cao mới.
Hội nghị ngày hôm nay là sự trăn trở và các chiến lược phát triển của kinh tế tư nhân ở Việt Nam. VCCI với chức năng đại diện cho lợi ích hợp pháp của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, 61 năm vừa qua VCCI luôn đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam, qua rất nhiều thế hệ doanh nhân, đóng góp rất lớn cho phát triển kinh tế, xã hội, và môi trường kinh doanh Việt Nam. Tôi muốn nhấn mạnh môi trường, bởi vì trong tình hình mới, trong bối cảnh mới thì chúng ta không chỉ chú trọng về phát triển kinh tế mà chúng ta còn phải để ý hơn nữa, hài hoà hơn nữa về sự tiến bộ xã hội. Có những giá trị về môi trường, thì kinh tế Việt Nam mới bền vững và có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của kinh tế Việt Nam trên thị trường quốc tế. Nói đến vai trò của kinh tế tư nhân, chúng ta hiện tại có khoảng gần 1 triệu doanh nghiệp và khoảng 5 triệu hộ gia đình. Nghị quyết 41 đã xác định rõ vị trí, vai trò của doanh nghiệp, của doanh nhân trong thời đại mới, Nghị Quyết 41 nối tiếp Nghị quyết 09 là phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam, trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá.
VCCI đã lắng nghe ý kiến của các chuyên gia trong Hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân. Nghị quyết 41 là chặng đường dài trong thời gian tới, Liên đoàn thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam sẽ liên kết các Hiệp hội doanh nghiệp, các Hiệp hội ngành hàng để tiếp tục những hội nghị và diễn đàn chia sẻ như thế này ở các vùng miền, chúng ta có thể mời các chuyên gia trong nước, nước ngoài tham mưu hiến kế, làm thế nào để chúng ta giải phóng được nguồn lực, tối đa hoá sự đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào trong sự phát triển của đất nước.
Trong hội nghị Chiến lược phát triển Kinh tế tư nhân 2024, chúng ta được đồng chí Chủ tịch tỉnh Quảng Ninh phát biểu giới thiệu về Quảng Ninh, địa phương tuyệt vời tổ chức Hội nghị hội thảo và phát triển Dịch vụ Sự kiện. Chúng ta đã nghe đồng chí Nguyễn Quang Vinh – PCT VCCI có bài phát biểu liên quan đến kinh tế tuần hoàn, đến bảo vệ môi trường trong xu thế chung, phát triển mạnh mẽ của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân. Hai diễn giả Đàm Nhân Đức – chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Quân đội và Chuyên gia Nguyễn Thy Nga – viện trưởng Viện Quản trị chính sách của Liên hiệp hội Việt Nam; Diễn đàn chính sách đã được 7 diễn giả, đồng chí TS Võ Trí Thành, chị Vũ Thị Hải Phượng, đồng chí Nguyễn Thanh Lâm, đồng chí Nguyễn Đình Ánh, đồng chí GS TS Thiếu tướng Nguyễn Hồng Quân, PGS TS Trần Quý Trường, và doanh nhân trẻ Vương Đình Vũ. Chúng ta làm việc liên tục và các doanh nhân, doanh nghiệp đặc biệt là cái bạn trẻ thấy một khí thế ngay từ ban đầu, các diễn giả đã thể hiện tình yêu, thể hiện những khát vọng, kinh nghiệm đổi mới và sáng tạo, thúc đẩy thử nghiệm các giải pháp mới, cách làm hay không chỉ phát triển Kinh tế tư nhân, phát triển Kinh tế Việt Nam mà còn đưa ra giải pháp liên kết nguồn lực Khoa học – Doanh nhân, xây dựng các chủ trương chính sách lớn của Quốc gia trên cơ sở Khoa học dữ liệu và truyền thông chính sách. Tôi không thể điểm lại tất cả những nội dung mà các đồng chí đã phát biểu vì nội dung nào cũng vô cùng quan trọng. Khán giả trong hội trường, rất nhiều bạn muốn kiến nghị, nhưng thời gian không cho phép nên chỉ có chọn một ý kiến tiêu biểu và đã có câu trả lời, các ý kiến tiếp theo có thể gửi về Ban tổ chức Hội nghị. Sau hội nghị này, phối hợp của VCCI và VUSTA sẽ chặt chẽ hơn, sẽ có những biện pháp, giải pháp để chúng ta đạt được mong muốn hội nghị đề ra, như vậy hội nghị của chúng ta có kết quả và đạt được thành công tốt đẹp. Đề đạt được kết quả tốt đẹp ấy, ngay từ đầu hội nghị, các diễn giả đã đề cập đến, đấy là vì dân tộc chúng ta mà muốn vì dân tộc chúng ta, một trong những nội dung cốt yếu, đấy là vì doanh nghiệp chúng ta.
Doanh nghiệp của chúng ta là doanh nghiệp Việt Nam chứ không phải chỉ có doanh nghiệp tư nhân hay nhà nước hay một loại hình doanh nghiệp nào cả. Vì tinh thần dân tộc, vì tinh thần đất nước, vì đất nước phồn vinh, các nội dung chia sẻ bao trùm, có tầm vóc, tạo cho chúng ta một khí thế, khát vọng mà như Bác Hồ đã nói, xây dựng đất nước ta hơn 10 lần ngày nay. Hội nghị đã thành công, về phía Liên hiệp Hội, chúng tôi biểu dương Viện Quản trị và Chính sách Liên hiệp Hội Việt Nam. Thời gian rất ngắn, công việc tổ chức liên kết nhiều cơ quan, với tư cách Chủ tịch Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, tôi biểu dương các đồng chí. Từ phía Liên hiệp Hội Việt Nam, tôi cũng cam kết với VCCI chúng ta sẽ cùng nhau phối hợp để Vòng tròn chính sách lan tỏa hơn nữa, chúng ta cùng đồng hành tìm ra các giải pháp, cách thức để những kiến nghị, những mong muốn từ hội nghị sẽ có được chính sách đúng và trúng từ Đảng và Nhà nước. Như các đồng chí mong muốn, đây không phải hội nghị đầu tiên hay cuối cùng mà sẽ còn tiếp tục đến nhiều tỉnh thành để tìm các giải pháp cho Chiến lược phát triển Việt Nam. Bởi vì mong muốn phát triển của chúng ta, khát vọng của chúng ta với đất nước không bao giờ dừng lại. Kết thúc hội nghị, xin chúc tất cả các đồng chí sức khoẻ, bình an và hạnh phúc. Xin gặp lại tại những hội nghị sau và những việc làm tiếp theo. Xin trân trọng cảm ơn!
Các cuộc trao đổi chuyên sâu trong Phim thuộc chuỗi “Chương trình đối thoại chính sách” của Chuyên gia Nguyễn Thy Nga chủ trì. Chuỗi hoạt động phối hợp giữa Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống, Bộ Biên tập Tạp chí Cộng sản, Văn phòng Chính phủ, Hội đồng lý luận Trung ương trong Phim Nguồn lực động lực thúc đẩy phục hồi phát triển Kinh tế Việt Nam và Quảng Ninh – Bước chuyển mình mạnh mẽ.
Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống được triển khai trên quy mô toàn quốc, bao gồm: sự kiện, hội nghị, hội thảo khoa học cấp Quốc gia, tọa đàm cấp cao, đối thoại Chính sách với các lãnh đạo Đảng và Chính phủ, các lãnh đạo Bộ ngành, địa phương, nhằm phát huy tối đa hiệu quả tuyên truyền của Chính phủ, các cấp, các ngành, các địa phương trong công tác triển khai thực hiện Chủ trương chung, góp phần đưa nền kinh tế Việt Nam bắt nhịp với tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, đồng thời tạo nền tảng và điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội mục tiêu 2025 và các năm tiếp theo, nâng cao hiệu quả, năng suất lao động, sức cạnh tranh, năng lực nội tại và tính tự chủ trong trung và dài hạn.

Chủ nhiệm Đề án Từ Chính sách ra Cuộc sống Viện trưởng Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam
Bản quyền thuộc về © tuchinhsachracuocsong.vn và © diendankinhtetunhan.vn. Mọi trích dẫn phải được đồng ý bằng văn bản.